TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Đề cương TTHCM cung cấp cái nhìn tổng quan về tư tưởng Hồ Chí Minh qua 5 giai đoạn phát triển. Tài liệu bao gồm lý thuyết và bài tập cho sinh viên môn Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nội dung trích xuất cho SEO
ĐỀ CƯƠNG FINAL TƯ TƯỞNG HCM (CÔ THÚY THANH) 1. Các giai đoạn hình thành và phát triển TTHCM (5 giai đoạn) * Giai đoạn 1: 1890 – 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước mới - Đây là giai đoạn HCM sinh ra lớn lên và sống trong nỗi đau của người dân mất nước. Là giai đoạn Người nhận được sự giáo dục của gia đình và quê hương về lòng yêu nước và thương dân. Tấm gươ
Xem thêm nội dung trích xuất
ĐỀ CƯƠNG FINAL TƯ TƯỞNG HCM (CÔ THÚY THANH)
1. Các giai đoạn hình thành và phát triển TTHCM (5 giai đoạn)
* Giai đoạn 1: 1890 – 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước mới
- Đây là giai đoạn HCM sinh ra lớn lên và sống trong nỗi đau của người dân mất nước. Là giai đoạn
Người nhận được sự giáo dục của gia đình và quê hương về lòng yêu nước và thương dân. Tấm gương
yêu nước và thương dân của người cha cũng như sự tần tảo của người mẹ thì đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự
hình thành và phát triển tư tưởng cũng như nhân cách của HCM
- Trong gia đình, Bác có 4 người (anh chị em tính cả Bác). Cả anh trai và chị gái của Người đều tham gia
các hoạt động yêu nước chống Pháp
- Đây là giai đoạn HCM băn khoăn trước sự thất bại của những phong trào yêu nước ở VN cuối TK19 đầu
TK20
* Giai đoạn 2: 1911 – 1920: Hình thành tư tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách
mạng vô sản
- Giai đoạn này HCM đã tìm tòi và thử nghiệm rất nhiều nước trên thế giới
- Từ 1911 – 1917, từ Pháp HCM đã đến nhiều nước trên thế giới. Thực tiễn phong phú đó đã giúp HCM
hình thành nhận thức mới: Dù màu da có khác nhau, trên đời chỉ có 2 giống người, đó là người bóc lột và
người bị bóc lột
- 1917 HCM trở lại Pháp, đã tham gia vào phong trào đấu tranh của công nhân Pháp
- 1919 Người gia nhập Đảng xã hội công nhân Pháp và viết bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Đây
cũng là bước nhận thức mới về quyền tự do dân chủ của HCM
- T7/1920, HCM đọc sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lenin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, đã
giúp HCM tìm thấy và xác định được phương hướng cho CMVN, đó là con đường cách mạng vô sản
- 30/12/1920, tại Đại hội Tua HCM đã bỏ phiếu tán thành quốc tế cộng sản tham gia sáng lập ĐCS Pháp
và trở thành người cộng sản đầu tiên của VN
* Giai đoạn 3: 1920 – 1930: Hình thành những nội dung cơ bản, tư tưởng về con đường CMVN
- Thời kì này tư tưởng đường lối CMVN từng bước được cụ thể hóa trong cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng
- Đầu thời kì này, HCM có viết 1 số bài báo đăng trên các tạp chí của nước pháp (Tờ báo Nhân đạo,
Người cùng khổ,..).
- 1921, Người tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa.
- 1922, Người được bầu làm trưởng tiểu ban nghiên cứu vấn đề dân tộc và thuộc địa của Đảng Cộng sản
Pháp
- 1925, tại Quảng Châu TQ Người đã sáng lập tổ chức tiền thân của ĐCSVN, đó là Hội VNCMTN, ra báo
Thanh niên
- 1930, tại Hương Cảng TQ HCM đã tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản VN thành ĐCSVN,
và thông qua các văn kiện do Người khởi thảo như Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt
của Đảng
=> Sự ra đời của ĐCSVN với cương lĩnh chính trị đúng đắn đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối
cứu nước của VN cuối TK 19, đầu TK 20
* Giai đoạn 4: 1930 – 1941: Vượt qua khó khăn thử thách, giữ vững đường lối lập trường CM đúng
đắn, sáng tạo
- Những khó khăn thử thách với HCM giai đoạn này xuất hiện ko chỉ từ phía kẻ thù mà còn từ trong nội
bộ những người CM. Một số người trong quốc tế cộng sản và ĐCS Đông Dương đã có những nhìn nhận
sai lầm về HCM, Người bị coi là “hữu khuynh” (theo chủ nghĩa Dân tộc), là “Dân tộc chủ nghĩa”
- T10/1930, Hội nghị Trung ương Đảng họp và ra Nghị quyết cho rằng Hội nghị hợp nhất Đảng do
Nguyễn Ái Quốc chủ trì có nhiều sai lầm, chỉ lo đến lợi ích dân tộc, phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp,
yêu cầu thủ tiêu những văn kiện của Đảng, yêu cầu đổi tên ĐCSVN thành ĐCS Đông Dương
- Đến năm 1934, thoát khỏi nhà tù của thực dân Anh tại Hồng Kong, HCM sang Liên Xô và học ở trường
Quốc tế Lenin
- T10/1938, HCM rời Liên Xô, qua TQ để trở về VN
- T12/1940, Người đã về gần tới biên giới VN – TQ, liên lạc với trung ương Đảng và trực tiếp lãnh đạo
CMVN
- T1/1941, Bác về tới VN. Ngày 19/5/1941, Người thành lập Mặt Trận Việt Minh và trong T5/1941,
Người chủ trì Hội nghị TW Đảng lần thứ 8, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu
* Giai đoạn 5: Từ năm 1941 – 1969: Giai đoạn tư tưởng HCM tiếp tục phát triển soi đường cho sự
nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta
- HCM nhiều lần đã đưa ra quan điểm sáng tạo, ngày càng được Đảng ta làm sáng tỏ và mở đường cho
CMVN
- 19/5/1941, HCM sáng lập Mặt trận Việt Minh
- 22/12/1944, Người cũng sáng lập Đội VN tuyên truyền giải phóng quân
- 18/8/1945, chớp đúng thời cơ HCM đã ra lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
- CMT8 thắng lợi đã xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, giành độc lập tự do cho dân tộc VN
- 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình HN, thay mặt chính phủ lâm thời, HCM đọc bản tuyên ngôn độc lập,
khai sinh ra nước VN dân chủ cộng hòa, mở ra 1 thời đại mới trong lịch sử dân tộc VN – thời đại độc lập
dân tộc và CNXH
- Từ 1945 đến 1946, HCM đã đề ra chiến lược để lãnh đạo chính quyền non trẻ vượt qua thử thách ngàn
cân treo sợi tóc
- Từ 1946 – 1954, HCM là linh hồn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
- Từ 1954 – 1969, HCM lãnh đạo thực hiện cùng lúc 2 nhiệm vụ chiến lược ở 2 miền Nam - Bắc khác
nhau: đi lên CNXH ở miền Bắc và cuộc cách mạng dân chủ ở miền Nam
2. TTHCM về độc lập dân tộc, về cách mạng giải phóng dân tộc
a) Tư tưởng HCM về vấn đề độc lập dân tộc
* Thứ nhất, độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc
- Độc lập tự do là khát vọng lớn nhất của HCM và cũng là của nhân dân các nước thuộc địa. Theo Người,
độc lập tự do là quyền cao nhất, thiêng liêng nhất của 1 dân tộc
- HCM khẳng định “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra có quyền bình đẳng, dân tộc nào cũng có
quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”
- 1919, thay mặt những người VN yêu nước, HCM đã gửi tới hội nghĩ Vecxay bản yêu sách của nhân dân
An Nam, gồm 8 điểm với 2 nội dung: (1) đòi quyền bình đẳng về mặt pháp lý, (2) đòi quyền dân chủ, tự
do cho nhân dân VN
- 1930, trong chính cương vắn tắt, HCM đã xác định mục tiêu chính trị của Đảng là:
“A: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến
B: Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập”
- 1945, trong Tuyên ngôn độc lập, thay mặt chính phủ lâm thời, HCM đã trịnh trọng tuyên bố trước quốc
dân đồng bào thế giới rằng “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành 1
nước tự do và độc lập, toàn thể dân VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để
giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”
- 1946, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, HCM khẳng định: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất
định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”
- 1965, khi đế quốc Mỹ tăng cường mở rộng chiến tranh ở miền Nam, gây ra chiến tranh phá hoại ở miền
Bắc, HCM đã nêu ra 1 chân lý thời đại “Không có gì quý hơn độc lập tự do”
* Thứ hai, độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân
- Theo HCM, độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH, gắn với cuộc sống ấm no hạnh phúc của nhân dân.
Người khẳng định “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chả có nghĩa lý
gì”. Vì vậy, sau khi giành độc lập dân tộc, phải tiến lên xây dựng CNXH
- Ngay sau CMT8/1945, trong ĐK đất nước vô cùng khó khăn, HCM yêu cầu chúng ta phải thực hiện
ngay:
“Một, làm cho dân có ăn
Hai, làm cho dân có mặt
Ba, làm cho dân có chỗ ở
Bốn, làm cho dân có học hành”
- Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, HCM luôn coi độc lập phải gắn liền với hạnh phúc của nhân
dân. Người đã khẳng định đầy tâm huyết “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng
được học hành”
* Thứ ba, độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để
- Theo HCM, độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để trên các lĩnh vực của xã
hội: chính trị, an ninh, lãnh thổ, … (chính trị là quan trọng nhất)
- HCM đã nhấn mạnh: “Độc lập mà người dân ko có quyền tự quyết về ngoại giao, ko có quân đội riêng,
ko có nền tài chính riêng thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì”
+ 1946, VN đã ký với đại diện chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ: “Chính phủ Pháp công nhận nước
VNDCCH là một quốc gia tự do có chính phủ của mình, quân đội của mình, tài chính của mình”
=> Đây là thắng lợi bước đầu của một sách lược ngoại giao hết sức khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt
nhưng có nguyên tắc, 1 minh chứng cho tính đúng đắn của tư tưởng HCM
* Thứ tư, độc lập dân tộc phải gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
- Trong lịch sử, dân tộc ta luôn đứng trước âm mưu xâm lược và chia cắt đất nước của kẻ thù. Thực dân
Pháp khi xâm lược nước ta đã chia nước ta thành 3 kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Mỗi 1 kỳ có 1 chế
độ cai trị riêng
- Sau CMT8, miền Bắc nước ta bị quân Tưởng Giới Thạch chiếm đóng, miền Nam bị thực dân Pháp xâm
lược. Và 1 lần nữa thực dân Pháp tiếp tục bày ra âm mưu “Nam Kỳ tự trị”, trong thư gửi đồng bào Nam
Bộ (1946), HCM khẳng định “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn,
xong chân lý đó không bao giờ thay đổi”
- Sau Hiệp định Gionevo 1954, VN bị chia cắt thành 2 miền. 1958, HCM khẳng định “Nước VN là một,
dân tộc VN là một”
- Trong di chúc, Người thể hiện niềm tin tuyệt đối vào sự thắng lợi của CM và sự thống nhất nước nhà
“Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định
phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp 1
nhà" => Thực hiện tư tưởng trên của HCM, nhân dân VN đã tiến hành giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước năm 1975
b) Tư tưởng HCM về cách mạng giải phóng dân tộc
* Thứ nhất, cách mạng giải phóng dân tộc muốn giành thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng
vô sản
- Lý do HCM lựa chọn CMVS:
+ Sự thất bại của những phong trào yêu nước ở VN cuối TK 19 – đầu TK 20 đã chứng tỏ rằng
cách mạng theo đường lối cũ (phong kiến hoặc tư sản) thì đều không đáp ứng được nhu cầu của
lịch sử
+ Nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản, HCM nhận thấy đây là cuộc CM không đến nơi, không
triệt để, chính quyền vẫn tập trung trong tay một số ít người
+ CM giải phóng dân tộc và CMVS đều có chung kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc
+ Nghiên cứu cuộc CMT10, HCM nhận thấy đây là cuộc CM triệt để, chính quyền đã tập trung
vào tay dân chúng, vì thế Người đã lựa chọn con đường CMVS ở VN. Người khẳng định “muốn
cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường CMVS”
- Nội dung
+ CM giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, trong đó
giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết
+ Độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH
* Thứ hai, cách mạng giải phóng dân tộc trong ĐK của VN muốn thắng lợi phải do Đảng cộng sản
lãnh đạo
- HCM đã khẳng định vai trò quan trọng quyết định của Đảng cộng sản đối với CMVN. Người đặt ra vấn
đề “Cách mệnh trước hết phải có cái gì: Trước hết phải có Đảng cách mệnh để trong thì vận động và tổ
chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp khắp mọi nơi. Đảng có
vững, cách mệnh mới thành công, như người cầm lái có vững, thuyền mới chạy”. Người khẳng định
“ĐCSVN là đội tiên phong của giai cấp công nhân, mang bản chất của giai cấp công nhân. Tuy nhiên,
ĐCSVN còn là Đảng của cả dân tộc bởi vì ĐCSVN mưu cầu lợi ích cho toàn thể dân tộc. Thành phần
xuất thân của Đảng bao gồm những người VN yêu nước, thuộc mọi giai cấp tầng lớp trong xã hội”
* Thứ ba, cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh
công nông làm nền tảng
- HCM khẳng định lực lượng của cuộc cách mạng là khối đại đoàn kết toàn dân. Người khẳng định “Cách
mệnh là việc chung của cả dân chúng, chứ không phải là công việc của 1, 2 người”. Trong sách lược vắn
tắt của Đảng, HCM xác định “Lực lượng CM bao gồm toàn dân: Đảng phải thu phục đại bộ phân giai cấp
công nhân, tập hợp đại bộ phân dân cày và phải dựa vào dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, liên lạc
với tiểu tư sản chính thức, trung nông, để lôi kéo họ về phía vô sản giai cấp.
- HCM khẳng định công nông là gốc, là chủ cách mạng, bởi vì công nông là lực lượng đông đảo nhất của
xã hội, công nông là giai cấp bị áp bức bóc lột nặng nề nhất, trực tiếp nhất, nên họ có tinh thần cách mạng
cao nhất, và vì công nông là giai cấp tay chân không, nếu thua họ chỉ
SỐ TRANG
0 trang
ĐỊNH DẠNG
PDFLƯỢT THÍCH
0
NĂM PHÁT HÀNH
—
Chọn màu highlight
Ghi chú