Các câu hỏi của thầy Bình và giải đáp - Kinh Tế Chính Trị UEL
Trường Đại học Kinh tế - Luật - UEL
Kinh Tế Chính Trị
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Tài liệu 'Các câu hỏi của thầy Bình và giải đáp' cung cấp kiến thức về Kinh Tế Chính Trị tại UEL. Nội dung bao gồm lý thuyết và bài tập thực hành.
Nội dung trích xuất cho SEO
CÁCH LÀM: - NÊU KHÁI NIỆM “...” - THEO EM, NHẬN ĐỊNH ĐƯA RA LÀ (CHƯA) PHÙ HỢP VÌ… - ĐƯA VÍ DỤ - GIẢI QUYẾT YÊU CẦU 2 1. Có ý kiến cho rằng Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN là chơi trội nên bỏ - Khái niệm + Nền kinh tế thị trường (tr61) là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường. Đó là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và
Xem thêm nội dung trích xuất
CÁCH LÀM: - NÊU KHÁI NIỆM “...”
-
THEO EM, NHẬN ĐỊNH ĐƯA RA LÀ (CHƯA) PHÙ HỢP VÌ…
-
ĐƯA VÍ DỤ
-
GIẢI QUYẾT YÊU CẦU 2
1. Có ý kiến cho rằng Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN là chơi trội nên bỏ
-
Khái niệm
+
Nền kinh tế thị trường (tr61) là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường. Đó là nền kinh tế
hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thông qua thị trường, chịu
sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường
+
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị
trường, đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập 1 xã hội mà ở đó dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng văn minh có sự điều tiết của Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
-
Theo em, nhận định trên là chưa phù hợp vì tùy vào điều kiện, hoàn cảnh, mục tiêu phát triển, tiềm năng, tiềm
lực vốn có của mỗi quốc gia thì sẽ có 1 mô hình kinh tế thị trường khác nhau như kinh tế thị trường tự do, nền
kinh tế thị trường xã hội,... Kinh tế thị trường là sản phẩm của nền văn minh nhân loại, không có một mô hình
kinh tế thị trường chung cho mọi quốc gia.Không thể lấy 1 mô hình kinh tế thị trường thành công để áp dụng
cho tất cả các quốc gia do hoàn cảnh của mỗi quốc gia đều không hoàn toàn giống nhau. Đồng thời, việc phát
triển kinh tế thị trường là một xu thế tất yếu để phát triển đất nước của mọi quốc gia dân tộc (tuy nhiên sớm hay
muộn giữa các quốc gia là khác nhau).
-
Nền kinh tế thị trường của Mỹ, Anh là mô hình kinh tế thị trường tự do có rất nhiều thành tựu do tạo sự cạnh
tranh, năng động, sáng tạo nhưng yếu điểm là mạnh được yếu thua, sự phân hóa giàu nghèo quá mức
⇒ Các
quốc gia phát triển sau không lựa chọn con đường này
-
Nền kinh tế thị trường của Nhật sau chiến tranh thế giới thứ 2 là mô hình kinh tế chính phủ kiến tạo, chính phủ
kết nối giữa doanh nghiệp với dn, dn với ngân hàng, dn trong nước với dn nước ngoài, dn với khởi nghiệp kết
nối,....
-
Nền kinh tế thị trường Thụy Điển là nền kinh tế thị trường nhà nước phúc lợi
-
Nền kinh tế thị trường Trung Quốc nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc
-
Việt Nam dựa trên những hoàn cảnh, mục tiêu, thể chế riêng của Việt Nam để lựa chọn mô hình kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn bình thường. Và thực tiễn đã chứng minh lựa chọn của Việt
Nam là đúng từ khi áp dụng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa VN từ 1 nước nghèo nàn lạc
hậu đã vươn lên thành nước có thu nhập trung bình khá. Đặt mục tiêu hết năm 2025 quy mô nền kinh tế VN
ngang bằng quy mô nền kinh tế Singapore, phấn đấu hết năm 2030 có thu nhập bình quân đầu người trên
10.000 USD và trở thành nước phát triển
2. Có ý kiến cho rằng Kinh tế thị trường VN khác biệt hoàn toàn so với nền kinh tế khác
-
Khái niệm
+
Nền kinh tế thị trường (tr61) là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường. Đó là nền kinh tế hàng hóa
phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết
của các quy luật thị trường
+
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường,
đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập 1 xã hội mà ở đó dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng
văn minh có sự điều tiết của Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
-
Theo em, nhận định trên là chưa phù hợp vì
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN mang đầy đủ
những điểm của nền kinh tế thị trường nói chung:
+ Vận động theo quy luật của thị trường
+ Là nền kinh tế mở
+ Nhiều chủ thể, nhiều thành phần tham gia vào nền kinh tế
+ Đều là nền kinh tế thị trường hỗn hợp
-
Điểm khác của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở VN so với KTTT các nước là nằm dưới sự
lãnh đạo của ĐCS VN và sự quản lý của nhà nước VN
3. Các cuộc CM công nghiệp tạo ra toàn bộ cơ hội cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Ở VN, hội nhập
kinh tếquốctế lànhântố giữ yếu tốquyết địnhphát triển dân tộc
-
Khái niệm: CMCN (tr.225) là những bước phát triển nhảy vọt về chất trình độ của tư liệu lao động trên cơ sở
những phát minh đột phá về kỹ thuật và công nghệ trong quá trình phát triển của nhân loại kéo theo sự thay đổi
căn bản về phân công lao động xã hội cũng như tạo bước phát triển năng suất lao động cao hơn hẳn nhờ áp
dụng một cách phổ biến những tính năng mới trong kỹ thuật - công nghệ đó vào đời sống xã hội
-
Theo em nhận định trên là chưa phù hợp vì cách cuộc CMCN ra đời, phát triển và ứng dụng trong cuộc sống thì
nó vừa tạo ra cho nhân loại rất nhiều cơ hội để phát triển nhưng đồng thời cũng tạo ra rất nhiều thách thức. Cho
nên không thể nói toàn cơ hội mà không có thách thức
+
Tác động tích cực (cơ hội): CMCN mang lại thúc đẩy sự phát triển của LLSX cụ thể là chuyển nền
kinh tế (nền sản xuất) từ thủ công sang sử dụng máy móc hiện đại. Gắn liền với đó yêu cầu trình độ
lao động của con người cũng phải tương xứng chính điều đó làm cho LLSX phát triển ở mức độ cao.
Đồng thời do sử dụng máy móc hiện đại ( công nghệ số)→ tạo ra nhiều ngành mới mang lại hiệu
quả kinh tế, nâng cao đời sống con người. Như có thể thấy các tiến bộ trong y tế, giáo dục và các
ngành dịch vụ khác đã được hưởng lợi từ cuộc cách mạng công nghiệp, giúp nâng cao chất lượng
cuộc sống của con người. Ví dụ, việc sử dụng vắc-xin, thuốc kháng sinh và các công nghệ y tế tiên
tiến đã giúp giảm tỷ lệ tử vong và kéo dài tuổi thọ
Tuy nhiên, những thành tựu đó không phải quốc gia nào cũng có đủ tiềm năng, điều kiện, nguồn lực để có thể tận
dụng, kế thừa ứng dụng. Đặc biệt là các quốc gia đang và kém phát triển. Thực tế, nhiều nước ở châu Phi, Nam Á
vẫn đang bị tụt lại phía sau dù đã trải qua các cuộc cách mạng công nghiệp toàn cầu. Khi nguồn lực của họ kém,
vốn ít, khoa học công nghệ chưa cao thì khả năng để bắt nhịp để áp dụng những thành tựu CMCN lần thứ nhất đến
lần thứ tư gần như rất khó. Vì sự khó khăn đó tạo ra sự phân cực càng rõ rệt trên thế giới chứ không phải tạo ra cơ
hội cho tất cả quốc gia mà là ngược lại. Mặc khác thì CMCN cũng tạo ra các tác động tiêu cực khác
+
Tác động tiêu cực: Chính sự phát triển các công nghệ như dây truyền tự động, robot, AI đã tạo ra sự thay thế
lao động của robot cho con người làm gia tăng sự thất nghiệp trong xã hội đặc biệt đối với thế hệ trẻ. Dẫn tới
hệ lụy là gia tăng tệ nạn xã hội. Đồng thời khi khoa học phát triển để chế tạo các thiết bị bán dẫn, vi mạch, AI,
robot thì nhu cầu về nguồn năng lượng hiếm (đặc biệt là đất hiếm - nguồn nguyên liệu có trong tất cả các thiết
bị hiện đại) là rất lớn. Nhưng đất hiếm chỉ có ở một số quốc gia điển hình như Trung Quốc tuy nhiên để khai
thác đất hiếm để lại hậu quả ô nhiễm môi trường rất khủng khiếp.
Do đó ta thấy được CMCN không tạo ra toàn cơ hội cũng như cho tất cả các quốc gia
"Hội nhập là yếu tố quyết định phát triển dân tộc ở Việt Nam" là chưa phù hợp vì:
- Hội nhập chỉ là một trong nhiều yếu tố quan trọng, nhưng không phải yếu tố quyết định: Phát triển dân tộc là một quá
trình toàn diện, bao gồm nhiều mặt: nội lực kinh tế, khoa học công nghệ, giáo dục, văn hóa, thể chế chính trị, quốc
phòng – an ninh…. Nếu chỉ dựa vào hội nhập mà không chú trọng nâng cao nội lực, Việt Nam sẽ phụ thuộc vào bên
ngoài, dễ bị tổn thương khi môi trường quốc tế thay đổi (như chiến tranh thương mại, khủng hoảng tài chính, dịch
bệnh...).
- Hội nhập tạo cơ hội, nhưng chưa đủ tạo ra sự phát triển bền vững nếu không đi kèm cải cách trong nước:
+
Thực tế cho thấy, sau gần 20 năm hội nhập sâu rộng (gia nhập WTO, ký CPTPP, EVFTA...), Việt Nam vẫn
phụ thuộc nặng vào FDI, doanh nghiệp trong nước chưa tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu một cách
hiệu quả.
+
Nhiều doanh nghiệp nội địa chỉ dừng lại ở gia công, lắp ráp, thiếu đổi mới sáng tạo, và năng suất lao động
thấp. Điều này cho thấy hội nhập chưa dẫn đến phát triển dân tộc một cách thực chất nếu không có cải cách
thể chế và nâng cao năng lực nội sinh.
- Bài học từ nhiều quốc gia khác cho thấy: yếu tố quyết định là năng lực tự chủ và đổi mới sáng tạo, không phải chỉ là
mở cửa hội nhập: Hàn Quốc, Israel hay Phần Lan đều thành công nhờ đầu tư cho khoa học – công nghệ, giáo dục chất
lượng cao và tự chủ về chiến lược phát triển, chứ không đơn thuần dựa vào hội nhập.
4. ‘Nhómlợiích’và‘Lợiíchnhóm’làgiống nhau
-
Khái niệm:
+
“lợi ích nhóm” là việc các cá nhân, tổ chức trong cùng ngành, cùng lĩnh vực, liên kết với nhau trong
hành đồng để thực hiện tốt hơn lợi ích riêng của họ.
+
“nhóm lợi ích” là việc các cá nhân, tổ chức hoạt động trong các ngành, lĩnh vực khác nhau nhưng có
mối liên hệ với nhau, liên kết với nhau trong hành động để thực hiện tốt hơn lợi ích riêng của mình.
-
Theo em, nhận định trên là sai.
-
Mặc dù cùng liên quan đến lợi ích của một tập thể, “nhóm lợi ích” và “lợi ích nhóm” là hai khái niệm có bản
chất, cơ cấu và phạm vi hoạt động hoàn toàn khác nhau. “Nhóm lợi ích” thường là những tổ chức có cấu trúc rõ
ràng, hoạt động công khai với danh nghĩa đại diện cho một ngành nghề, tầng lớp hay lĩnh vực cụ thể trong xã
hội như nông dân, doanh nghiệp, giáo viên, người tiêu dùng,… Các nhóm này có thể tham gia vào quá trình xây
dựng chính sách, đưa ra ý kiến, vận động hành lang để bảo vệ quyền lợi cho đối tượng mà họ đại diện. Ngược
lại, “lợi ích nhóm” không nhất thiết tồn tại dưới hình thức tổ chức chính thức mà thường là sự liên kết không rõ
ràng giữa một số cá nhân hoặc nhóm nhỏ có chung quyền lợi cụ thể. Những lợi ích mà họ theo đuổi mang tính
riêng biệt, đôi khi chỉ phục vụ cho một tập thể nhỏ trong nội bộ một cơ quan, một lĩnh vực hay một bộ phận xã
hội nào đó. Một điểm khác biệt lớn là: “nhóm lợi ích” thường được thừa nhận trong khuôn khổ thể chế xã hội,
còn “lợi ích nhóm” thường vận hành bên ngoài những khuôn khổ này, không có danh tính pháp lý rõ ràng. Ví
dụ, hiệp hội nghề cá có thể là một “nhóm lợi ích” khi đại diện cho ngư dân trong đàm phán về chính sách hỗ trợ;
trong khi một nhóm cán bộ cùng hợp tác để giành quyền bổ nhiệm nội bộ có
thể là biểu hiện của “lợi ích nhóm”. Từ đó cho thấy, dù đều xoay quanh khái niệm “lợi ích của một nhóm
người”, nhưng hai khái niệm này khác biệt rõ về cơ chế hình thành, phạm vi đại diện và tính công khai
trong xã hội.
5. Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều thực hiện quá trình phát triển chung VN cũng
khôngngoại lệ
-
Khái niệm: Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi nền sản xuất xã hội từ dựa trên lao động thủ công là
chính sang nền sản xuất xã hội dựa chủ yếu trên lao động bằng máy móc nhằm tạo ra năng suất lao động
xã hội cao
a. Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều thực hiện quá trình phát triển chung. Theo
em, nhận định trên là sai.
-
Vì trên thực tế, mỗi quốc gia có con đường phát triển rất khác nhau, tùy thuộc vào lịch sử,
điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị, nền tảng văn hóa và bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể.
Ví dụ, Anh đã áp dụng mô hình công nghiệp hoá cổ điển gắn với cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ nhất; mô hình công nghiệp hoá kiểu Liên Xô được Liên Xô và các nước
Đông Âu áp dụng; nhiều nước châu Á như Hàn Quốc, Singapore lại chọn con đường “rút
ngắn” qua chiến lược đầu tư mạnh vào giáo dục, công nghệ và thu hút FDI. Như vậy, các
quốc gia không hề đi theo một con đường giống nhau, mà chọn chiến lược khác nhau phù
hợp với hoàn cảnh của mình.
b. “VN cũng không ngoại lệ”. Theo em, nhận định trên là sai.
-
Việt Nam đang theo đuổi một con đường riêng, phù hợp với điều kiện lịch sử và bối cảnh đặc
thù của mình. Trong khi phần lớn các quốc gia phát triển sớm đều lựa chọn mô hình tư bản chủ
nghĩa với nền kinh tế thị trường tự do từ đầu, thì Việt Nam sau chiến tranh lại lựa chọn xây
dựng chủ nghĩa xã hội, với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Tuy nhiên, trước những đòi hỏi
thực tiễn và áp lực từ hội nhập, Việt Nam đã tiến hành công cuộc Đổi mới từ năm 1986,
chuyển sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – một mô hình “lai” chưa
từng xuất hiện trước đó, kết hợp giữa nguyên tắc thị trường với vai trò điều tiết mạnh mẽ của
Nhà nước và mục tiêu phát tr
SỐ TRANG
0 trang
ĐỊNH DẠNG
PDFLƯỢT THÍCH
0
NĂM PHÁT HÀNH
—
Chọn màu highlight
Ghi chú